loader image

Nghiên cứu sâu về các loại rụng tóc

Rụng tóc là nỗi ám ảnh không chỉ riêng ai. Như nhiều bài viết trước, iCare Pharma đã đề cập đến căn bệnh này cũng những cách điều trị tại nhà. Tuy nhiên, phải có hiểu biết sâu và cặn kẽ về rụng tóc từ đó mới có cách điều trị hiệu quả. Trong bài viết này, iCare Pharma sẽ đề cập đến những điều căn bản, các nghiên cứu khoa học về rụng tóc

>> Xem thêm một số bài viết về rụng tóc của iCare: 6 Lý do cho biết vì sao bạn bị rụng tóc nhiều 

>> 7 mẹo hay chấm dứt tình trạng ngứa da đầu và rụng tóc

I. Khái niệm đại cương

Sự phát triển  của tóc trên da đầu xảy ra theo một chu kỳ hoạt động không liên tục. Pha đầu tiên là pha phát triển – anagen – có hoạt động gián phân mạnh. Tiếp theo một pha gọi là catagen trong đó sự gián phân đột ngột ngừng lại. Rồi tiếp đến là pha nghỉ – telogen. Thời gian của các pha này dường như phụ thuộc vào các yếu tố tại chỗ và yếu tố  di truyền. Bình thường tóc anagen chiếm 80- 90%. Catagen 5%. Tóc telogen là 10- 15%. Hàng ngày có 50- 100 sợi tóc rụng. Số tóc này là tóc được thay thế hàng ngày.

Rụng tóc là nỗi ám ảnh không chỉ riêng ai

II. Phân loại 

2.1 Phân loại theo hình thái

2.1.1 Rụng tóc không sẹo (non scaring alopecia)

– Rụng tóc androgen di truyền. Androgenetic  alopecia).

– Rụng tóc  thành đám (alopecia areata).

– Rụng  tóc kết hợp bị bệnh  toàn thân hoặc hệ thống.

– Rụng tóc telogen (Telogen effluvium).

– Rụng tóc anagen (Anagen effluvium).

– Giang mai (syphilis).

– Do  tật nhổ tóc (trichotillomania)

– Rụng tóc kết hợp với các hội chứng di truyền.

Rụng tóc không sẹo có nhiều hình thái

2.1.2 Rụng tóc có sẹo (scarring alopecia)

2.2. Rụng tóc có sẹo (scarring alopecia)

Một số bệnh có tổn thương gây nên sẹo và nếu nó xuất hiện ở vùng đầu nang tóc bị phá huỷ hậu quả gây nên rụng tóc có sẹo. Tóc bị teo và nang tóc bi hư hại, do viêm (nhiễm trùng và không nhiễm trùng) hoặc do bị bệnh lý khác và khi khỏi xuất hiện  sẹo. Có thể phát hiện các dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của bệnh chính ở vùng rụng tóc, vùng da xung quanh hoặc vùng da khác của cơ thể.

Rụng tóc có sẹo xảy ra trên toàn thế giới ở mọi đối tượng. Một số phân loại cụ thể trong phạm vi rụng tóc kiểu này có thể kể đến như viêm nang lông có mủ eosinophilic, hội chứng thoái hóa nang (trước kia còn gọi là rụng tóc kiểu “hot comb”), rụng tóc do viêm nang lông, lichen phẳng, và chứng rụng tóc teo da (prseudopelade of Brocq).

Rụng tóc có sẹo còn có thể là biểu hiện của một vấn đề sức khỏe lớn hơn như lupus ban đỏ mãn tính khi các cơ quan của cơ thể bị ảnh hưởng

Dù cho có nhiều hình thái nhưng nhìn chung vẫn là sự phá hủy vĩnh viễn và không thể khôi phục được của nang tóc. Chứng bệnh để lại mô sẹo trên bề mặt da

Trong một số trường hợp tóc rụng dần dần, không có triệu chứng dễ thấy và có thể không được chú ý tới trong một thời gian dài. Ở các trường hợp khác, tóc rụng còn gây ngứa nghiêm trọng, rát bỏng, đau và rụng liên tục.

 

Các bệnh đặc biệt có  tổn thương ở da đầu: lupút đỏ, li ken phẳng, morphea, pemphigoid thành sẹo

2.2 Phân loại theo căn nguyên

2.2.1 Rụng tóc thành đám (alopecia areata)

Rụng tóc thành từng đám, từng vùng. Các vết rụng thành mảng hình tròn, bầu dục. Thường một vài đám kích thước vài cm đường kính, không có dấu hiệu viêm nào. Không triệu chứng, da trơn nhẵn giống như sẹo. Có thể thấy một số sợi tóc thanh mảnh, bạc màu như lông tơ. Ở rìa đám có sợi gãy ngắn và mập gọi là tóc dấu chấm than. Tuy nhiên, thể trạng này không đau và không ngứa

Rụng tóc ở vùng đầu, có thể rụng ở vùng râu cằm và vùng khác

+ Chia thành các loại sau:

– Rụng tóc thành đám (alopecia areata).

–  Rụng tóc thể  rắn bò  (alopecia ophiasis).

– Rụng tóc toàn phần (alopecia totalis).Toàn bộ tóc vùng đầu hầu như bị rụng.

– Rụng tóc toàn bộ (alopecia universalis).Rụng tóc vùng đầu, rụng cả lông mày, nách, mi, lông mu, lông tơ của cơ thể.

Rụng tóc thành từng đám, từng vùng. Tuy nhiên ở thể này người bệnh không bị đau hay ngứa

Biểu hiện ở móng: loạn dưỡng, đĩa móng có hàng trăm hố lõm nhỏ như”đê khâu””đồng đột”.

+ Tiến triển: các đám ổn định nguyên như vậy, thường mọc lại một cách ngẫu nhiên sau vài tháng, có khi xuất hiện các đám mới trong khi các đám khác đang mọc lại. Bệnh cũng thường tái phát.

Nếu bệnh xuất hiện sau tuổi thiếu niên thì 80% sẽ mọc tóc lại và ít gặp rụng  lông tóc  toàn bộ (alopecia universalis). Bệnh cũng thường  tái phát.

Nếu có biến đổi móng và rụng tóc toàn phần (alopecia totalis) thì tiên lượng không tốt hoặc các đám liên kết thành từng dải ở vùng đỉnh, tiên lượng cũng không tốt.

2.2.2 Rụng tóc androgen di truyền (androgenetic  alopecia- AGA)

Đây còn gọi là chứng hói tiến triển. Xuất hiện do tố bẩm sinh di truyền và tác động của androgen lên nang tóc ở đầu. Chứng bệnh này chủ yếu xuất hiện ở nam từ 20 – 40 tuổi. Nếu là nữ thường ở tuổi 60 – 70. Bệnh do di truyền đa gen hoặc autosome trội ở nam. Autosome lặn ở nữ. 

Bệnh có triệu chứng tóc rụng thưa mỏng đi một cách từ từ ở nam. Thường rụng tóc tạo thành một đường ở phía trước hình chữ M. Ở vùng trán thái dương rồi rụng vùng đỉnh. Hậu quả là để lại một vành tóc ở hai bên và vùng chẩm của đầu. Đối với nữ, tóc sẽ mỏng và thưa đi theo dạng lan tỏa

Hiện tại không có phương pháp điều trị hiệu lực cao để ngăn sự tiến triển của rụng tóc adrogen di truyền. Các chuyên gia thường sẽ cho bệnh nhân dùng dung dịch Minoxidil 2% bôi tại chỗ làm giảm rụng tóc. Đối với nữ, các chuyên gia còn dùng các thuốc kháng androgen. Điển hình như spironolactone, cyproteron acetate, flutamid và cimetidine

Đây còn gọi là chứng hói tiến triển. Xuất hiện do tố bẩm sinh di truyền và tác động của androgen lên nang tóc ở đầu

2.2.3 Rụng tóc telogen (telogen effluvium ,Telogen defluvium).

Đây là loại rụng tóc hàng ngày tăng dần, tóc mỏng thưa đi. Tăng tỷ lệ phần trăm pha telogen tóc bị chuyển nhanh từ pha anagen sang catagen và telogen.

Nguyên nhân thường là do:

– Có thai, sảy thai, sinh  đẻ.

– Chấn thương lớn, phẫu thuật ngoại khoa lớn, mất máu.

–  Sau đợt ốm có sốt cao

– Sau ăn kiêng, sụt cân trong thời gian ngắn.

– Thuốc tránh thai, giảm năng tuyến giáp.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh thường là rụng lan tỏa vùng đầu. Bệnh nhân vuốt tóc thấy một vài sợi hay nhiều sợi bị rụng. Lan tỏa ở cả mặt bên và sau đầu. Các tóc mới mọc lại ngắn, mảnh hơn tóc cũ và đuôi thon nhọn hơn

Hướng điều trị của bệnh đa phần chỉ là dùng vitamin B liều cao, calcium, về sau tóc sẽ mọc lại. Bệnh nhân cần nhất là chờ đợi.

2.2.4. Rụng tóc anagen (anagen effluvium )

Rụng tóc anagen là kiểu rụng tóc lan toả, khởi đầu nhanh và khá rõ rệt, nó gây nên kìm hãm sự mọc  tóc  hoặc  làm hư hại các sợi tóc anagen chuyển nhanh sang  catagen và telogen và rụng đi. Phần lớn rụng tóc loại anagen gây nên do thuốc, nhiễm độc và hoá trị liệu.

2.2.5 Bệnh tóc chuỗi hạt (Beaded hair, bệnh monilethrix)

Đây là bệnh của tóc mà hậu quả là do các biến đổi dày thân tóc lên một cách đều đặn tạo thành các nút cục ở tóc và có xu hướng tóc bị gãy, đứt đoạn

Theo phương diện dịch tễ học, monilethrix là một bệnh hiếm gặp, cả hai giới bị bệnh tỷ lệ như nhau. Bệnh thường xuất hiện ở tuổi niên thiếu, có đặc điểm di truyền trội kiểu menden. Ở một số người bị thể nhẹ tóc hầu như bình thường phải khám kỹ mới phát hiện được.

Bệnh thường xuất hiện lần đầu ở tuổi ấu thơ, biểu hiện bằng rối loạn sự phát triển của tóc, trẻ em  bị hói hoặc tóc thưa và dễ gẫy đến nỗi da đầu phủ toàn tóc ngắn. Thường gặp  sẩn  dầy sừng nang lông thường gặp làm da đầu thô ráp xù xì, có biểu hiện khô da, đặc biệt rõ ở vùng chẩm.

Có thể quan sát thấy các sợi tóc dạng chuỗi hạt bằng kính lúp.Trong các ca bệnh thể nhẹ thì khó phát hiện các sợi tóc ngắn bất thường  xen kẽ các sợi tóc dài bình thường, bệnh nhân có thể phát hiện tóc bất thường bằng cách sờ.

Vùng trán, đỉnh, vùng chẩm là vị trí hay gặp,hiếm khi quan sát thấy bệnh monilethrix ở vùng mu, cẳng chân, lông mày và lông mi.

Rụng tóc chuỗi hạt thuyên giảm nhất thời sau khi dùng bức xạ ion hoá vùng đầu nhưng không nên dùng nhiều. Corticoid tại chỗ không tác dụng

Rụng tóc chuỗi hạt là do các biến đổi dày thân tóc lên một cách đều đặn tạo thành các nút cục ở tóc và có xu hướng tóc bị gãy, đứt đoạn

2.2.6 Rụng tóc do tật nhổ tóc

Là tật của cả người lớn và trẻ em, nhất là những người làm việc trí óc. Người ta cho rằng những người này có tật về thần kinh. Theo đó, người bệnh thường nhổ tóc khi căng thẳng, cáu kỉnh khi xem tivi, lúc đi ngủ. Cảm giác khó chịu không cưỡng lại được phải nhổ tóc, lâu  ngày thành thói quen .

Có người nhổ đỉnh đầu, có người nhổ phía trước, thông thường ở  hai bên thái dương. Thương tổn không có ranh giới rõ ràng, tóc vùng  thương tổn không đều chỗ cao chỗ thấp .

Thử nghiệm kéo nhổ tóc ( hair pluck) tăng tỉ lệ số tóc Anagen và catagen (  vì phần lớn tóc telogen bị bệnhnhân nhổ đi).

Điều trị  tâm lý liệu pháp thuyết phục bệnh nhân bỏ thói quen nhổ tóc, nếu cần cho thuốc an thần. Đồng thời kết hợp với uống thuốc kháng histamin tổng hợp. Nếu có ngứa da đầu, thuốc bôi mỡ corticoid có kháng sinh kết hợp nếu có kèm  viêm chân tóc.

2.2.7 Rụng tóc do nấm

Rụng tóc do nấm thường do chủng nấm Microsporum hoặc trichophyton nguồn gốc lây từ người sang ngươì ( M ferrugineum, M.audouini, T.violaceum, T. craterioforme) hoặctừ súc vật lây sang người ( M. lanosum, M.gupseum, M. equinum, T. gupseum, T faviforme…).

Bệnh thường gặp ở lứa tuổi trẻ em, học sinh, lâynhiếm trong gia đình, vườn trẻ, nhà trường, loại lây từ súc vật sang người do bế, ôm súc vật.

Biểu hiện bằng trên da đầu có đám tròn to nhỏ không đều, ranh giới không  phủ vẩy da màu trắng đục, xen kẽ giữa các giữa các tóc lành có những tóc bị xén ngắn chỉ còn 1-2 mm, hoặc bị xén cụt sát chân chỉ còn lại điểm đén như 1 hạt than khảm vào da đầu ( trichophytie nông ) hoặc thành từng đám róc vẩy  nhỏ ở da đầu , giới hạn không rõ rệt, có xu hướng liên kết với nhau có khi thành đám lớn hình nhiều vòng cung ( microsporum có nguồn gốc từ người )

Rụng tóc do nấm gây ra ngứa ngáy, khó chịu và đau đỡn kéo dài

Chẩn đoán bệnh nấm tóc nên căn cứ vào :

– Hỏi kỹ tiền sử bệnh sử.

– Khám lâm sàng, chú ý tìm cả tổn thương nấm ở vùng da khác.

– Làm xét nghiệm soi nấm trực tiếp , cấy nấm.

– Soi ánh sáng đèn Wood thấy ánh sáng huỳnh quang màu sáng xanh.

Các bác sĩ thường điều trị bằng cách:

Tại chỗ: Bôi cồn BSI 1%, dung dịch castellani hoặc mỡ clotrimazol 1%, kem nizorral, kem lamisil.

Toàn thân : cho uống kháng sinh chống nấm griseofuvil hoặc ketoconazol (nizoral viên ), itraconazole, terbinafine, vitamin nhóm B, nâng đỡ cơ thể.

Phòng bệnh : khám phát hiện bệnh nấm tóc ở gia đình và trường học cả những ca bệnh nhẹ và người mang  không triệu chứng để điều trị kịp thời tránh lây lan

>>Tham khảo tại: Chứng bệnh rụng tóc 

iCare Pharma tổng hợp

Nguồn: Bệnh viện Quân Y 103

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.